Tài liệu độc » Quản trị kinh doanh

Con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam - 24 trang

                                                       MỞ ĐẦU                                   
                 Dân tộc mình là dân tộc nghèo, một đất nước đang phát triển ở mức thấp, chúng ta vẫn sử dụng lao động thủ công là chính. Điều đó cho thấy lực lượng sản xuất chúng ta vẫn còn yếu kém, khoa học kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu. Chúng ta nhận biết được điều đó vì vậy chúng ta quyết tâm không để sự thấp kém đó tồn tại. Chính phủ và nhà nước đã lập ra nhiều chiến lược phát triển nền kinh tế trong đó có chiến lược mang tầm vóc lớn và có ý nghĩa thực tế với thực trạng kinh tế nước ta hiện nay đó là chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Chiến lược đưa ra với mục đích rất rõ ràng là chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao. Tất cả những chiến lược định hướng đó đều có thể tạo ra sự đột biến trong nền kinh tế sản xuất của nước ta, song để thực hiện được nó thì yếu tố không thể thiếu và có thể nói là quan trọng hàng đầu là con người, nguồn nhân lực là bộ phận tác động trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp. Chúng ta đều biết lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và con người, để lực lượng sản xuất phát triển thì con người phải thể hiện được trình độ, khả năng đối với tư liệu sản xuất. Cũng như vậy công nghiệp hoá - hiện đại hoá mà muốn thành công, phát triển thì con người lực lượng lao động phải biết sử dụng máy móc, khoa học công nghệ thể hiện trình độ càng cao thì công nghiệp hoá - hiện đại hoá sẽ càng phát triển hiện đại hơn. Như vậy có thể thấy một đất nước phát triển đòi hỏi nguồn nhân lực phải dồi dào, phải có đầy đủ sức mạnh cả về thể lực và trí lực.     Nói cách khác đất nước đó phải là đất nước của một xã hội học tập, đất nước của những con người yêu nước, đất nước của những con người có trí tuệ, lòng hăng say học tập và lao động cần cù. Tất cả những điều đó xét về đất nước ta thì chúng ta không thiếu, có thể thấy được điều đó qua các cuộc kháng chiến giữ nước và các lớp trẻ của chúng ta khi tham gia Olympic. Mặc dù chúng ta có tiềm lực như vậy song để phát huy tiềm lực đó không phải đơn giản, muốn làm được vấn đề này chính là điểm yếu của đất nước ta. Chúng ta chưa sử dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực vào các chiến lược kinh tế mà chính phủ nhà nước đã đặt ra. Việc sử dụng không hợp lý đó có rất nhiều các nguyên nhân song trong bất cứ một chiến lược cần phát triển nào đó thì chúng ta cần phải đi nghiên cứu vào thực trạng của nó sau đó đưa ra các giải pháp để phát triển. Có như vậy thì mới có thể tạo ra được sự phù hợp, đồng nhất để phát triển, mới có thể phát huy được điểm mạnh và khắc phục hạn chế điểm yếu. Mặt khác chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay lại là một vấn đề càng phải quan tâm, nghiên cứu một cách chính xác chặt chẽ thì mới có thể thành công trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Bởi lẽ chúng ta là một nước nghèo xuất phát điểm là một nước nông nghiệp mà muốn thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì rõ ràng là điều không đơn giản. Chúng ta cần phải nghiên cứu thực trạng một cách chính xác để đề ra giải pháp hợp lý, để làm sao nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với nước ta hiện nay, do đó em chọn đề tài "Vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Liên hệ với Việt Nam". Em tin rằng con người Việt Nam sẽ đạt được điều này, đưa đất nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
 
                                                          
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                                    CHƯƠNG 1

                        CON NGƯỜI - KHÁI QUÁT VỀ CON NGƯỜI


1.1. Quan niệm chung về con người trong lịch sử triết học trước Mác
             Triết học duy vật trước Mác, coi con người là một thực thể tự nhiên- thực thể xã hội. Song họ cũng không vượt qua tính chất siêu hình và thậm chí còn là duy tâm. Theo triết học Phương Đông với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác thơ ngây, biểu hiện trong tư tưởng Nho Giáo, Lão Giáo, quan niệm về bản chất con người củng thể hiện một cách phong phú. Chẳng hạn như Khổng Tử quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng bởi phong tục, tập quán xấu mà bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp. Củng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hường tới các giá trị dạo đức tốt đẹp. Tuân Tử cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, qua một quá trình chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được. Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “ Đạo”. Do vậy con người cần phải sống theo lẽ tự nhiên thuần phát, không hành động một cách giả tạo, gò ép trái với quy luật tự nhiên.
           Cũng như triết học phương Đông, triết học phương Tây củng có nhiều quan niệm khác nhau về con người. Đặc biệt là Kitô giáo, họ nhận thức con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm và thần bí. Triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu củng đã có sự phân biệt con người với giới tự nhiên, nhưng củng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người. Triết học thời kỳ phục hưng cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ.
           Nói chung nền triết học thời bấy giờ, vấn đề con người vẫn chưa được nhận thức đầy đủ cả về bản chất, về mặt sinh học và xã hội. Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội. Bởi vì họ đã quy đặc trưng bản chất con người theo khuynh hướng tuyệt đối hoá những thuộc tính tự nhiên hoặc thuộc tính xã hội, mà không thấy được vai trò của thực tiễn. Chẳng hạn, khi phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen thì Phơbách cho rằng vấn đề giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất của con người vì chỉ có con người mới có tư duy và sự tồn tại của con người cũng như tư duy của con người không thể tách khỏi quá trình tâm sinh học. Tuy nhiên, Phơibách đã mắc phải sai lầm khi ông tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người hoặc tách con người ra khỏi quan hệ hiện thực của xã hội hoặc ông quy bản chất con người vào tính tộc loại, mà đặc trưng của nó là tình cảm đạo đức, tôn giáo và tình yêu.
    Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Họ đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá về mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên- sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy củng không thể phủ nhận hết những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết học Macxít sau này.


1.2. Quan điểm của triết học Mác- Lênin về bản chất con người
     1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội
               Tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm có tính hợp lý và khắc phục những thiếu sót, hạn chế quan niệm về con người trong lịch sử triết học trước đó, Mác khẳng định rằng con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội.
               Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người.Vì vậy giới tự nhiên là “ thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
               Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người với thế giới loài vật là mặt xã hội . Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ, tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
              Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển, con người luôn phải chịu sự tác động của ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau.
              Bao gồm:
              Hệ thống quy luật tự nhiên chịu sự quy định của mặt sinh học, hệ thống quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người, hệ thống quy luật xã hội quy định các quan hệ giữa người với người trong xã hội.

      1.2.2. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
             Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản chất của con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”.
             Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người.
            Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vật trước hết là bản chất xã hội và đó củng là để khắc phục sự thiếu sót của những nhà triết học trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính quy luật; vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.
            Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử. Với vai trò là chủ thể của lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả năng của mình. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để phát triển toàn diện.Vì vậy, một vân đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội.

1.3. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội
       1.3.1. Con người là chủ thể của lịch sử

               Lịch sử loài người được hình thành khi con người biết chế tạo ra công cụ sản xuất, con người bắt đầu sinh sống theo một cách riêng, tách mình ra khỏi thế giới loài vật, hình thành thế giới loài người. Trong quá trình lao động sản xuất, con người không ngừng cải tiến công cụ, tích luỹ kinh nghiệm làm cho lực lượng của sản xuất của xã hội tiến dần từ trình độ thấp lên trình độ ngày càng cao. Lực lượng sản xuất phát triển đã kéo theo sự thay đổi của các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Lịch sử xã hội từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến nay, trước hết là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất .
              Trong các chế độ xã hội có quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất chỉ được thực hiện thông qua cuộc đấu tranh giai cấp.
              Cuộc đấu tranh này diễn ra hết sức gay gắt mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội để xoá bỏ các quan hệ sản xuất lỗi thời.
             Ví dụ: cuộc đấu tranh của giai cấp nô lệ xoá bỏ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xoá bỏ quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa .
              Như vậy, lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động thực tiễn của con người.Con người sáng tạo ra lịch sử dựa trên sự nhận thức và vận dụng qui luật khách quan. Trong giới tự nhiên, sự phát triển diễn ra một cách tự động, không thức. Ngược lại sự phát của xã hội gắn liền với ý thức những mục tiêu nhất định và lựa chọn những phương thức để đạt được những mục tiêu đó. Vì vậy, nhiều người lầm tưởng những qui luật khách quan chỉ chi phối giới tự nhiên, còn con người có thể có thể làm ra lịch sử theo ý muốn chủ quan của mình. Thực ra không phải như vậy, hoạt động con người không chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Chỉ khi nào, những mục tiêu, phương thức hoạt động của con người phù hợp với quy luật khách quan thì nó mới trở thành hiện thực.

     1.3.2. Con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
             Từ khi xuất hiện đến nay, loài người luôn cháy bỏng hoài bão được sống tự do, hạnh phúc và không ngừng đấu tranh để hoài bão đó được trở thành hiện thực. Trong các chế độ xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất( chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản), các giai cấp thống trị luôn dùng mọi thủ đoạn để tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do và hạnh phúc của số đông quần chúng lao động, cho nên loài người không ngừng đấu tranh chống lại sự áp bức bất công đó.
            Xã hội ngày càng văn minh, đó xu hướng chủ yếu của xã hội. Nhưng cho đến nay, bước tiến của nền văn minh vẫn chứa đựng những yếu tố , những khuynh hướng đi ngược lại lợi ích chung của loài người, nhiều thành tựu của khoa học- kỹ thuật được sử dụng để huỷ diệt con người, công nghiệp hoá học tạo ra năng suất chất lượng lao động cao, nhưng lại gây ô nhiễm môi trường, máy móc thay thế sức người nhưng lại đẩy hàng chục triệu người vào thất nghiệp, xu thế hội nhập mở cửa tạo ra cơ hội phát triển cho mỗi người, cho các quốc gia nhưng lại nảy sinh những biểu hiện tiêu cực về lối sống làm mất bản sắc văn hoá dân tộc... Ông Nobel đã phát minh ra thuốc nổ, và nhờ thuốc nổ trở thành giàu có. Nhưng bản thân ông lại không ngờ thuốc nổ lại sử dụng rộng rãi trong chiến tranh, tàn sát hàng chục triệu người vô tội. Ân hận về điều đó, ông đã để lại di chúc, đề nghị sử dụng gia tài mà ông có được do phát minh thuốc nổ, làm giải thưởng cho những ai có công trình khoa học đem lại hạnh phúc cho con người.
             Như vậy, Nobel đã đề xuất một tư tưởng: văn minh phải hướng tới nhân đạo.
Thế kỷ XXI chắc chắn sẽ có nhiều biến đổi to lớn, khoa học và công nghệ sẽ có những bước tiến bất ngờ. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người, mỗi quốc gia là phải làm chủ được các thành tựu của văn minh. Vậy con người là chủ thể của lịch sử nên chính con người chứ không phải đối tượng nào khác, phải loại trừ những yếu tố ngăn cản tự do, hạnh phúc của con người, đồng thời thúc đẩy làm biến đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn. Thế giới hiện nay còn chứa đựng những yếu tố khác đe doạ tự do và hạnh phúc của con người như đói nghèo, dịch bệnh, thất học, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội, nguy cơ khủng bo, chiến tranh…. Do đó mọi chủ trương chính sách, mọi hành động của cộng đồng quốc tế, của các quốc gia và hành động của mỗi cá nhân phải nhằm bảo vệ con người, vì tự do hạnh phúc của con người.
             Vì con người là chủ thể của lịch sử nên con người cần được tôn trọng, cần phải đảm bảo các quyền chính đáng của mình, phải là mục tiêu của mọi tiến bộ xã hội. Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển. Nhưng theo qui luật tiến hoá của lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp hơn. Một xã hội không có tình trạng áp bức, bóc lột, một xã hội thống nhất và văn minh với nhân đạo, một xã hội mà trong đó mọi người có cuộc sống tự do, hạnh phúc, và xã hội chỉ có thể là Xã Hội Chủ Nghĩa.


Tags:

Thuộc loại: Quản trị kinh doanh
Loại tài liệu:  Microsoft Word (.doc)
Gửi bởi: Guest Kích cỡ: *******
Mức phí: 20.000 vnd Lần tải: *******
Mã tài liệu: TLD12808 Ngày gửi: 12-01-2013

Hỗ trợ qua Email và Yahoo Chát

Nạp tiền bằng thẻ cào vui lòng click vào đây (Nhấn vào đây)

Email: info@tailieudoc.net  Yahoo:

Tải tài liệu này về máy chỉ với thẻ cào 20.000 VND. Vui lòng nạp thẻ tại đây

Tài liệu khác thuộc Quản trị kinh doanh